Đồng hồ đeo tay ra đời như thế nào

Đồng  hồ là một trong những công cụ hữu ích giúp cho con người có thể đo đạc được các mốc thời gian, là công cụ giúp đo thời gian dài hơn 1 ngày. Từ  ngàn xưa khi chiếc đồng hồ chưa được phát minh, con người sử dụng nhiều thứ khác nhau để tính thời gian như: nhang, đèn cầy, lịch.

Con người còn sử dụng mặt trời, cát để chia một ngày ra thành nhiều giờ. Bạn có biết chiếc đồng hồ ngày nay được phát triển bởi những người sùng đạo ở châu Âu vào thế kỷ thứ 17 họ muốn biết thời gian chính xác để gặp nhau ở nhà thời. Ngoài ra ở Châu Á người Trung Quốc phát minh ra đồng hồ nước vào thế kỷ thứ 17, nhưng người chiếc đồng hồ này thì người Ai Cập cổ đại đã có từ trước đó lâu rồi. Vào những thập niên 1700, con người đã có đồng hồ treo tường và đồng hồ đeo tay, chính xác đến từng phút.

Sự ra đời sơ khai của những chiếc đồng hồ đầu tiên trên thế giới

Đồng hồ hiện nay không còn xa lạ đối với chúng ta nhưng thưở xa xưa khi đồng hồ chưa được phát minh thì những chiếc đồng hồ sơ khai đầu tiên đã ra đời. Chiếc đồng hồ này dựa vào hệ mặt trời. Trong khi mặt trăng và các ngôi sao có thể được sử dụng để đo những khoảng thời gian dài thì những khoảng thời gian ngắn lại là một vấn đề khác. Một trong những giải pháp đầu tiên mà con người biết đến là đồng hồ mặt trời, nhưng chỉ có thể để đo những khoảng thời gian nhỏ vào ban ngày bằng cách sử dụng bóng của Mặt Trời chiếu lên qua những cột mốc.

Ngoài ra con người còn biết sử dụng đèn cầy, nhang, cát để đo chính xác thời gian trong  một khoảng ngắn. Khác với việc sử dụng đèn cầy hay nhang thì người Ai Cập cổ đại đã sử dụng những loại đồng hồ nước có tên là clepsydra. Herodotus cũng đã đề cập đến một dụng cụ đo thời gian khác của người Ai Cập hoạt động nhờ thủy ngân. Những tài liệu về đồng hồ nước cũng được tìm thấy ở nhiều nơi trên bán đảo Ả Rập, Trung Quốc và Hàn Quốc.

Đồng hồ cơ học và những bước phát triển  vượt bậc của đồng hồ

A, Sự ra đời của đồng hồ cơ học

Vào  khoảng giữa những năm 1280 và 1320,  những tư liệu của các nhà thờ về những loại dụng cụ để đo thời gian tăng lên. Điều này có thể thể hiện một cấu trúc đồng hồ mới được thiết kế ở thời kì này: bao gồm một hệ thống những quả nặng kết hợp với những con quay. Năng lượng được trong đồng hồ được điều khiển bởi những cấu trúc gọi là “hồi”.

Những dụng cụ cơ khí được áp dụng vào đồng hồ vì hai lí do chính: thứn nhất là để đánh dấu, báo hiệu thời gian và  thứ hai là đánh dấu sự chuyển động của các thiên thể. Nhu cầu đầu tiên là vì sự tiện lợi trong quản lý, còn nhu cầu sau dành cho những môn khoa học, thiên văn học, và mối quan hệ giữa chúng với tôn giáo. Chiếc đồng hồ đầu tiên thường được đặt ở những tòa tháp chính, không cần thiết có kim nhưng chỉ cần có khả năng báo hiệu giờ. Theo thời gian, chiếc đồng hồ phức tạp khác cũng dần xuất hiện có kim để chỉ giờ và cả một cơ cấu tự động.

Năm 1283, một chiếc đồng hồ được lắp đặt ở Dunstable Priory, nhưng điều đáng chú ý ở đây là chiếc đồng hồ này được người ta cho là đồng hồ cơ khí không sử dụng sức nước đầu tiên. Vào năm 1292, một chiếc đồng hồ tương tự được đã được lắp đạt ở nhà thờ Canterbury. Năm 1322, một cái khác được lắp đặt ở Norwich. Công trình như trên đòi hỏi công sức của hai người thợ lành nghề trong vòng 2 năm.

Đa phần các loại đồng hồ từ thế kỉ 14 đến nay đều có những bộ phận chính như sau:

Đầu tiên là cần nói đến nguồn năng lượng: lúc đầu là một con lắc(nguồn năng lượng không bao giờ là con lắc, năng lượng của nó rất nhỏ), về sau là dây cót hồi, một cơ cấu được thiết kế sao cho năng lượng thoát ra từ từ chứ không thoát ra tất cả cùng lúc, cơ cấu của hồi ban đầu là con lắc đơn (trong các đồng hồ quả lắc).

Sau này là con lắc xoay nằm ở tâm một lò xo mảnh và nhẹ (trong các đồng hồ quả quýt và đồng hồ đeo tay), rồi là tinh thể thạch anh, và các cơ cấu tinh vi hơn… hệ thống bánh răng, có nhiệm vụ điều khiển và truyền chuyển động từ nguồn đến bộ phận hiển thị hệ thống hiển thị, bao gồm kim, chuông,..

B, Những bước tiến vượt bậc của đồng hồ

Đồng hồ được ra đời từ rất lâu đồng thời nó luôn khẳng định được vai trò và vị thế của mình trong cuộc sống. Theo thời gian chiếc đồng hồ ngày càng được thiết kế hoàn chỉnh hơn.

Những người thợ làm đồng hồ đã cải tiến các phát minh dưới nhiều hình thức khác nhau. Thiết kế những loại đồng hồ càng lúc càng nhỏ dần dần đã trở thành một thách thức lớn, bởi vì họ còn phải bảo đảm tính chính xác và bền bỉ của đồng hồ. Đồng hồ có thể là một tác phẩm  nghệ thuật của một nghệ sĩ tài năng nhưng cũng có thể được sản xuất hàng loạt để sử dụng trong nhà.

Đầu tiên, hệ thống dây cót được phát triển vào thế kỉ 15, và đó đã trở thành một thách thức mới cho những người thợ làm dồng hồ. Kim phút xuất hiện đầu tiên ở đồng hồ vào năm 1475, được nhắc đến trong Almanus Manuscript của nhà tu Paul.

Trong suốt thế kỉ 15 và 16, nghệ thuật làm đồng hồ phát triển ở những thị trấn như Nürnberg, Augsburg, Blois. Một số đồng hồ chỉ có một kim và bề mặt đồng hồ được chia làm 4 khoảng để người đọc dễ dàng theo dõi đồng hồ. Một hệ thống hồi hoàn chỉnh được thiết kế bởi Jobst Burgi vào năm 1585. Những chiếc đồng hồ chính xác của ông đã giúp Johannes Kepler và Tycho Brahe quan sát thiên văn với độ chính xác cao hơn.

Kim giây xuất hiện vào khoảng năm 1560 trong bộ sưu tập của Fremersdorf. Tuy nhiên nó hoạt động không được chính xác lắm, và kim giây chỉ giúp cho chúng ta nhận ra rằng đồng hồ vẫn còn hoạt động.

Vào năm 1653, Galileo Galilei phát minh ra con lắc dẫn đến sự ra đời của đồng hồ quả lắc do Christiaan Huygens chế tạo. Ông đã xác định nếu con lắc có độ dài là 99,38 cm thì một chu kì của nó sẽ là đúng 1 giây. Vào năm 1670, William Clement phát minh ra hệ thống hồi dạng mỏ neo giúp nâng độ chính xác. Từ đó, kim phút và kim giây xuất hiện ở hầu hết những loại đồng hồ.

Vào năm 1761, một người thợ làm đồng hồ tên John Harrison đã đạt được một giải thưởng lớn khi đã chế tạo thành công một đồng hồ chỉ chạy sai 5 giây trong vòng 10 ngày.

William Clement vào năm 1670 thiết kế đưa đồng hồ quả lắc vào trong một hộp dài, từ đó nó trở thành một vật dụng trang trí trong rất nhiều gia đình thời đó.

Vào 17 tháng 11 năm 1797, Eli Terry đăng kí bản quyền về đồng hồ đầu tiên. Ông là một trong số những người thiết lập công nghiệp đồng hồ ở Hoa Kỳ.

Alenander Bain, một người thợ người Scotland, đã phát minh ra đồng hồ điện vào năm 1840, sử dụng một môtơ điện và một hệ thống nam châm điện. Năm 1841, ông được cấp bằng phát minh về con lắc điện từ.

Ngày nay, thời gian trong đồng hồ được đo bằng nhiều cách khác nhau, từ những tinh thể thạch anh cho đến chu kì bán rã của một chất phóng xạ. Ngay cả những đồng hồ cơ học trước kia, chúng ta chỉ cần sử dụng pin chứ không cần phải lên dây cót như trước.

1
Loading Facebook Comments ...