Nguyên nhân bị đau dạ dày do nhiễm vi khuẩn hp có nguy hiểm không ?

Đau dạ dày không do viêm loét là một thuật ngữ dùng để mô tả các dấu hiệu và triệu chứng của chứng khó tiêu không có nguyên nhân rõ ràng. Bệnh cũng được gọi là rối loạn tiêu hóa chức năng (dis-PEP-xem-uh) hoặc khó tiêu không do viêm loét. Cảm giác nóng rát hoặc khó chịu ở bụng trên hoặc dưới ngực, đầy hơi, ợ hơi, cảm giác no ngay khi vừa ăn, buồn nôn. Hỏi bệnh sử và khám thực thể. Xét nghiệm máu giúp loại trừ những bệnh khác. Nội soi đường tiêu hóa trên (EGD). Các xét nghiệm tìm vi khuẩn Helicobacter Pylori (H. Có thể kết hợp thuốc đau dạ dày với liệu pháp hành vi.

... x

Loét HTT vị trí đau lệnh về bên phải đường trắng giữa lan ra sau lưng. Mức độ đau: thường âm ỉ, nhưng cũng có khi cơn đau trội lên. Tính chất đau: đau theo giờ nhất định trong ngày. Loét DD đau xuất hiện sau ăn 1-2 giờ (gọi là đau khi no). Loét TT đau thường xuất hiện sau khi ăn 4-6 giờ còn gọi là “đau khi đói” mỗi đợt kéo dài vài tuần. Cũng có trường hợp loét nhưng không đau gọi là “loét câm”. Thể này phát hiện được là do thủng hoặc do chảy máu.

Rối loạn tiêu hóa: đầy bụng, chậm tiêu, ăn kém, buồn nôn hoặc nôn, ợ hơi, ợ chua. Táo, lỏng thất thường (loét HTT thường hay táo bón). Suy nhược thần kinh: hay cáu gắt, nhức đầu, mất ngủ, trí nhớ giảm. Khám bụng ngoài cơn đau không có gì đặc biệt. Xác định bằng chụp X-quang tìm ổ loét – có thể HTT bị biến dạng tùy thâm niên của tổn thương và giai đoạn có đợt tiến triển.

Trong các tổn thương “non trẻ”, HTT phình to ra và ổ loét trung tâm, xung quanh có bóng mờ (chỉ đè nén hoặc chụp đối quang kép mới thấy). Nhược điểm của phương pháp này: không thấy ổ loét nhỏ, ổ loét ở cao (tâm vị) hoặc nhiều hình ảnh giả thường nhầm lẫn. Loét dễ nhận thấy, đáy xám phủ Fibrin, đôi khi các nếp phù nề, phì đại che lấp mất ổ loét. Hình dạng của các ổ loét qua soi thường gặp là loét tròn (60%), ổ loét bờ không đều, ổ loét dạng súc xích, loét dài, hẹp. Kích thước của các ổ loét HTT có thể rất nhỏ đến to.

2
Loading Facebook Comments ...